THIỀN SƯ THIỆN MINH

Pháp Danh : Varapañño

Tiến Sĩ Phật Học - Đại Học Kelaniya, Srilanka

Giảng Viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam - TP.HCM

Lợi Ích Của Thiền Niệm Ân Ðức Phật (Buddhanussati)

image

II – LỢI ÍCH CỦA THIỀN NIỆM ÂN ÐỨC PHẬT.

(Buddhanussati)

 

 

          Tất cả 40 loại đề mục thiền định, đều có mục đích chung, đó là kỹ thuật đốt cháy phiền não, nghiệp chướng, để định tâm an trú trên một đề mục thiền định tương ứng duy nhất, giúp hành giả không phải bị phóng tâm từ chuyện nầy đến việc kia!

          Riêng với thiền định, trên đề mục niệm 9 ân Đức của Chư Phật vô cùng thiêng liêng, vi tế, sâu sắc, cao siêu, bao la, rộng lớn vô lượng vô biên, uy linh tối thượng nhất trên thế gian!

 

          * Vì vậy, sẽ giúp tâm của hành giả:

          + Có cơ hội quý báu, để dễ dàng vượt qua, phá vỡ, đốt cháy những cảm giác đau, nhức, tê, mỏi, khó chịu, bức bách, không hài lòng, v.v… do vô minh tạo trữ lỗi lầm, nghiệp chướng, được kết tinh và tích luỹ ngũ ngầm trong tâm thức từ vô lượng kiếp đến nay!

 

          + Phá tan 5 trạng thái tâm chướng ngại (nivarana), ngăn chặn sự phát triển đại thiện tâm, sự hạnh phúc và trí tuệ sáng suốt, như là “kẻ thù truyền kiếp” của chính chúng ta, đó là:

1. Sân tâm – byapada: (nóng nảy; oán thù; căm ghét; đố kỵ; ghanh tỵ,…);

2. Tham tâm – kamachanda: (tham đắm sáu trần cảnh: sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp).

 

 

3. Hôn trầm – thinamiddha: (buồn ngũ; dã dượi; lười biếng; dễ duôi; thân tâm mờ tối, bải hoải, đần độn, si mê, tâm lơ mơ mờ tối, mất chí tiến thủ và những hoạt động tích cực; là trạng thái tâm sinh ra phần lớn sự ô nhiễm, lỗi lầm và tiêu cực v.v…).

 

4. Trạo cử – hối hận – Uddaccakukucca: (là sự tán loạn, không vắng lặng và phóng dật của tâm; ý thức tội lỗi được đánh thức dậy bởi sự phạm giới, thái độ hối hận, ăn năn của tâm, khiến người luôn luôn phóng tâm, hết chụp bắt và dính mắc từ việc nầy sang việc khác, chẳng khi nào được bình yên, v.v…).

 

5. Hoài nghi – vicikiccha: (không có đức tin một cách trong sáng về quy luật vận hành của nguyên nhân và kết quả:  Như làm việc tốt không có phước và làm điều xấu không có tội! hoặc không có đức tin về nghiệp và quả của nghiệp!                            

                                         

         

          Nghi ngờ hay phân vân đối với đức Phật:

+ không biết có hay không sự hiện hữu của một bậc với toàn vẹn tất cả phẩm chất cao quý, tối thượng của một vị Phật?!

+ Nghi ngờ lời Phật dạy về sự hiện hữu của con đường giải thoát, của các đạo, quả và Niết bàn?!

+ Nghi ngờ về sự hiện hữu của các bậc thánh thiện, hay nghi ngờ sự lợi ích của việc cúng dường đến chư Tăng!?

+ Nghi ngờ tính hiệu quả của giới, định, tuệ trong việc dẫn đến sự đoạn tận khổ đau!? v.v…)

 

          Để chứng đạt đến trạng thái hỷ, lạc và minh tuệ v.v… đó là nguồn hạnh phúc vô lượng vô biên, không thể lấy gì so sánh hay đánh đổi được! – tâm cận định (upaccara samadhi). 

          Cận định tâm của đề mục niệm Ân đức Phật, là dục giới đại thiện tâm (kamavacara kusala citta) thuộc về dục giới thiện nghiệp.

 

 

A. LỢI ÍCH TRONG KIẾP HIỆN TẠI

 LỢI ÍCH CỦA THIỀN NIỆM ÂN ĐỨC PHẬT LỚN LAO NHƯ THẾ NÀO?

I. (A)

 

          1. Thiền là kỹ thuật: THIÊU CHÁY PHIỀN NÃO, THANH LỌC THÂN TÂM ĐỂ CHỨNG ĐẠT PHÁP BẢO QUÝ GIÁ CAO THƯỢNG!

–  Mang lại Trí Tuệ sáng suốt, nguồn hạnh phúc vô bờ bến và phát triển đồng thời 3 kho tàng sức mạnh trong con người đó là:

 

          (1). Phát triển Kho tàng Năng lực sức mạnh vô cùng lớn lao của Tâm (Tinh Thần) đó là:

– Đối trị và hoá giải một cách tuyệt vời hầu hết nhiều loại phiền não, thống khổ, trái ý nghịch lòng, đau thương, oan ức, chán chường trầm cảm hoặc những nỗi đau khổ mất mác lớn trong Tình Yêu lứa đôi, trong hôn nhân v.v… theo hướng tiêu cực, bi lụy không lối thoát!

– Phát huy nguồn bình an, hạnh phúc vô bờ bến nơi nội tâm!

– Phát huy: Lòng nhân ái lớn, Buông xả, sự Rộng lượng, đức tính Kiên nhẫn, Nghị lực dũng cảm, Định tĩnh, Quyết tâm cao trước nhiều thử thách lớn, nhân cách Chơn Chánh cao quý v.v…

 

 

           (2). Phát triển Kho tàng Năng lực sức khoẻ vô cùng lớn lao của Thân thể (Cơ thể vật chất) đó là:

2a. Tăng cường sức khoẻ, sự tráng kiện của cơ thể!

2b. Tăng cường sự bền bỉ và dẻo dai tuyệt vời hầu hết mọi sinh hoạt trong cuộc sống v.v…

 

2c. Đặc biệt : THIỀN NIỆM ÂN ĐỨC PHẬT GIÚP HÀNH GIẢ CÓ THỂ CHỮA TRỊ ĐƯỢC RẤT NHIỀU LOẠI BỆNH TẬT Có Tính chất NAN Y NHƯ:

* Chứng Cao huyết áp vô căn (mãn tính); Thoái hoá đốt sống; Thoát vị đĩa đệm, vôi hoá đốt sống;

+ Ung Thư các giai đoạn 1;2;3 đã phát hiện di căn sang các tạng phủ khác,…

+ Viêm xoang cấp tính và mãn tính; Viêm các khớp, các chứng viêm đau nhức khớp gối cấp tính, mạn tính;

 

 

2d. Các chứng suy nhược cơ thể; các chứng đau, nhức, mỏi cơ năng (không rõ nguyên nhân)

2e. Nhiều chứng bệnh về đường tiêu hoá;

2f. Hạ Canxi máu tâm thần bất an, cơ thể suy nhược, …

2g. Chứng mất ngủ kéo dài (kinh niên) v.v…

2h. Thiền sẽ làm giảm hoặc đẩy lùi quá trình Lão Hoá!

 

Sau 5 ngày cho hành giả nét mặt trẻ trung, tươi sáng, dung sắc tốt, dễ mến và thường thấy yêu đời hơn bao giờ hết! Đó là kết quả hầu như trên 90-95 % hành giả các khoá trước Đã Trải Nghiệm và sở hữu được hạnh phúc lợi ích vô giá này, từ Thiền Niệm Ân Đức Phật mang lại! (xin tham khảo trong mục “CHIA SẺ”), v.v…

http://thiensuthienminh.com/chia-se-1/

 

          (3). Phát triển Kho tàng Năng lực về TRÍ TUỆ và SỰ THẤY BIẾT MỘT CÁCH VÔ CÙNG ĐẶC BIỆT VÀ SÂU SẮC (Tinh Thần) đó là:

 

          3.a/ Hiểu biết được nhiều quy luật Tâm – Sinh lý trong thân thể của chính mình! Và do đó, có thể dễ dàng hiểu biết đến các quy luật Tâm Sinh lý của kẻ khác trong gia đình và xã hội loài người v.v…

 

          3b./ Thiền giúp hành giả có những bước tiến đột phá tối ưu một cách nhanh chóng về hướng hoàn thiện bản thân: Chân-Thiện-Mỹ v.v… Như vậy, chắc chắn không bao giờ đơn giản hơn nhiều sự thực tập khác.

 

          3c/ Thiền có thể giúp hành giả hiểu biết được nhiều hơn và chính xác hơn về các quy luật chân lý Trong cuộc sống v.v…

 

 

I. (B)

          1. Cuộc sống hằng ngày của hành giả thường an lạc và vô cùng hạnh phúc cao quý! Tránh được nhiều rủi ro một cách phi thường, được phần đông thân mật, kính mến, chư thiên kính yêu và hộ trì, vắng lặng phiền não, có trí tuệ sáng suốt, nhiều loại phước thiện đặc biệt tăng trưởng! v.v…

 

          2. Hành giả sẽ thường có cảm tưởng như gần gũi với Ðức Phật, nên tâm thường không sợ hãi, chịu đựng được những đau đớn trong thân khi bị bệnh hoạn! Thường có sự hổ thẹn và ghê sợ mọi tội lỗi, giữ gìn giới hạnh ngày càng trong sạch, dễ dàng lắng nghe và thực hành chánh pháp, dễ dàng chứng ngộ chân lý Tứ Thánh đế, đạo quả và Niết bàn.

 

 

          3. Cơ thể của hành giả thường siêng năng niệm ân đức của Chư Phật, như trở thành một ngôi chùa, ngôi Bảo tháp, khiến người và Chư thiên cung kính, thân mật, …

+ Tâm của vị ấy hướng về sự giác ngộ tối thượng. Do đó, Thiền định niệm ân đức Phật, là cơ sở vững chắc, cho chúng sanh tăng trưởng đức tin nơi Đức Phật, hoan hỷ trong thiện pháp, để đạt hạnh phúc an lành trong 2 cõi đó là:

+ Hạnh phúc, an vui và sáng suốt ngay tại kiếp nầy (cõi người).

+ Hạnh phúc Niết Bàn (là nền tảng căn bản, để tiến lên thực hành Thiền tuệ Vipassana, nhằm đạt thánh đạo tuệ, thánh quả tuệ Niết bàn cao thượng, đóng chặt 4 đường khổ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula), giải thoát sanh tử luân hồi).

 

 

 

B. LỢI ÍCH TRONG KIẾP VỊ LAI

 

          * Dục giới thiện nghiệp tạo được do tiến hành thiền định này, vững chắc hơn thiện nghiệp dục giới tạo ra do Bố thí và Trì giới!

+ Chính vì lẽ đó, khi gần chết, tâm của hành giả không mê muội! Trái lại, tâm rất bình tĩnh và sáng suốt.

+ Do vậy, sau khi chết, nếu dục giới thiện nghiệp này cho quả tái sanh làm người, thì sẽ là người có trí tuệ.

+ Nếu hành giả chưa đủ duyên lành để đạt Thánh Ðạo Tuệ và Thánh Quả Tuệ ngay trong kiếp sống nầy, vị ấy cũng được tái sinh nơi cõi thiện giới.

 

 

          (1).   Nếu tái sinh làm người:

+ Sẽ là người có trí tu, có sắc thân xinh đẹp đáng ngưỡng mộ, các bộ phận trong thân thể đều xinh đẹp đáng yêu quý.

+ Thân thể có hương thơm. Miệng có mùi hương tỏa ra.

+ Có trí tuệ nhiều; Có trí tuệ sâu sắc; Có trí tuệ sắc bén; Có trí tuệ nhanh nhẹn; Có trí tuệ phong phú! Có trí tuệ phi thường!

+ Nói lời hay ý đẹp và có lợi ích;

+ Có địa vị cao quý.

 

          (2).   Nếu tái sinh làm Chư thiên:

+ Sẽ là một thiên nam hoặc thiên nữ có nhiều oai lực, hưởng được sự an lạc đặc biệt hơn các chư thiên khác!

(3).   Hơn thế nữa, kiếp vị lai, khi có duyên lành gặp Ðức Phật và giáo pháp của Ngài. Vị ấy, sẽ dễ dàng phát sinh đức tin nơi Tam bảo, lắng nghe chánh pháp, dễ dàng chứng chứng đắc 4 Thánh đạo – 4 Thánh quả và Niết bàn, giải thoát mọi cảnh khổ sanh tử luân hồi trong 3 giới 4 loài.

 

          Về pháp niệm Ân đức Phật, Ðức Phật dạy:

          “Này chư Tỳ kheo, pháp hành thiền định niệmÂn Ðức Phật mà hành giả đã tiến hành, đã hành thuần thục, chắc chắn dẫn đến phát sanh sự nhàm chán trong ngũ uẩn, danh pháp – sắc pháp này, để tận diệt tâm tham ái, sân hận, si mê; để làm vắng lặng mọi phiền não; để làm phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã; để chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo – 4 Thánh quả và Niết bàn” (1).

 

C. THIỀN NIỆM ÂN ĐỨC PHẬT LÀ CÁCH CÚNG DƯỜNG CAO THƯỢNG

 

          Thiền Niệm ân đức Phật, là một trong những cách cúng dường tốt đẹp nhất đến Ðấng Từ Phụ. Phật dạy cúng dường có 2 cách:

1. Cúng dường bằng phẩm vật (amisapuja) như hương, hoa, v.v…

2. Và cúng dường bằng hành pháp (patipattipuja): Hành giới, hành định, và hành tuệ. Trong 2 cách cúng dường nầy, Ðức Phật tán dương cách cúng dường bằng thực hành pháp hay thiền định (trong đó có pháp niệm ân đức Phật) cũng là cao thượng.

 

          Khi gần tịch diệt Niết bàn, Phật dạy chỉ có hành pháp mới thật là cách cúng dường cao thượng nhất. (2).

          Khi đức Phật thông báo cho các vị tỳ kheo rõ thời gian tịch diệt Niết bàn của Ngài không còn lâu nữa! Chư Tỳ kheo thường đến hầu hạ Ngài với lòng tôn kính thương yêu.

          – Riêng Tỳ kheo Attadattha nghĩ:

          “Ðức Thế Tôn còn thời gian không lâu nữa  sẽ tịch diệt Niết bàn, còn ta vẫn chưa diệt được tam độc tham ái, sân giận và si mê! Ta nên cố gắng tiến hành thiền tuệ, chứng đắc đến A la hán Thánh đạo A la hán Thánh quả trở thành bậc thánh A la hán, ngay khi Ðức Thế Tôn còn hiện tiền! .

 

          Vì vậy, ngài ở nơi thanh vắng một mình để tiến hành thiền tuệ. Một số tỳ kheo khác chê trách ngài không biết kính yêu đức Phật!

          – Thế Tôn bèn hỏi ngài: Này con, con nghĩ thế nào mà hành động như vậy?”.

 

          – Ðại đức Attadattha thưa:

          “Kính bạch Thế Tôn, con được nghe biết Ðức Thế Tôn không còn bao lâu nữa sẽ tịch diệt Niết bàn, con cố gắng tiến hành thiền,…  để chứng đắc A la hán Thánh quả trong khi Ðức Thế Tôn còn hiện tiền!“.

 

          – Nghe vậy, Thế Tôn dạy:

          “Sadhu! Sadhu! Này chư Tỳ kheo, Tỳ kheo nào có lòng kính yêu Như Lai, Tỳ kheo ấy nên noi gương như Tỳ kheo Attadattha! v.v…                                                                    

 

          Trước khi nhập diệt, Thế Tôn dạy Ðại đức Ananda cùng ý nghĩa trên:

          “Này Ananda, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ nào, v.v… cung kính thực hành nghiêm chỉnh theo Giới-Ðịnh-Tuệ, thực hành theo chánh pháp, người ấy mới thật tôn kính Như Lai, tôn trọng, kính yêu, cúng dường, lễ bái Như Lai một cách cao thượng! (3).

 

         Vì vậy, để tỏ lòng tôn kính Ðức Phật, Ðấng Từ Phụ, chúng ta nên cố gắng tinh tấn thực hành theo lời giáo huấn của Ngài, cố gắng trau dồi Giữ giới, Thiền định và Thiền tuệ.

 

          Bắt đầu với việc thiền định, niệm 9 ân đức Phật, để xứng đáng cúng dường đến Ngài, đồng thời mang lại cho chúng ta sự lợi ích, sự tấn hóa, sự an lạc cao quý; vừa đóng góp vào việc duy trì Phật giáo được trường tồn lâu dài trên thế gian, cho tất cả chúng sanh, nhất là chư thiên và nhân loại.

Nguyện cầu cho chánh pháp được trường tồn trên thế gian”.

          * Kinh Anguttara Nikaya, phần Ekadhammavagga. Trích dẫn trong Tìm hiểu pháp môn niệm Phật. Ðại đức Hộ Pháp. Trang 3.

           (2).  Bộ Dhammapadatthakatha, chuyện Attadatthatheravatthu. Ðại đức Hộ Pháp. trang 121.

          (3).  Bộ Digha Nikaya, phẩm Mahavagga. Kinh Mahaparinibbana sutta. Xem Tỳ kheo Hộ Pháp trang 122.